Xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam

Xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam đã và đang diễn ra như thế nào?

Xã hội hóa giáo dục là công cuộc thu hút nguồn đầu tư trong và ngoài nước để phát triển giáo dục nước ta. Nhà nước coi đây là một chủ chương lớn, lâu dài cần triển khai rộng khắp trên toàn quốc để đào tạo những nhân sự chất lượng cao phục vụ cho đất nước.  Tìm hiểu cùng bishamschool trong bài viết hôm nay nhé!

Xã hội hóa giáo dục là gì?

Xã hội hoá là quá trình chuyển giao những nội dung, nhiệm vụ thuộc chính sách xã hội mà nhà nước đề ra để các cá nhân, tổ chức ngoài nhà nước thực hiện trên cơ sở các quy định, các chuẩn mà nhà nước yêu cầu.

Có rất nhiều khái niệm xã hội hóa giáo dục được đưa song có thể hiểu: xã hội hóa giáo dục là xã hội hóa các hoạt động giáo dục, xã hội hóa sự nghiệp giáo dục, hướng mọi hoạt động giáo dục tham gia vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Hay hiểu một cách bao quát thì xã hội hóa giáo dục là một quá trình mà cả cộng đồng và xã hội cùng tham gia vào giáo dục.

Giáo dục quốc phòng là môn học cần thiết và quan trọng đối với các trường đại học, cao đẳng trong cả nước, để thông qua môn học này học sinh vừa được rèn luyện sức khỏe, vừa nâng cao tinh thần yêu nước.

Xã hội hóa giáo dục tại Việt Nam

Xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam đã xuất hiện từ rất sớm và được nhà nước đưa vào trong các văn bản về xã hội hóa giáo dục nêu tại các hội nghị. Mở đầu bằng Nghị quyết số 90 ngày 21/8/1997 rằng: “Xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự nghiệp phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về về giáo dục, y tế, văn hóa và sự phát triển về thể chất và tinh thần của nhân dân”.

Nhà nước đưa ra các Nghị quyết phát triển xã hội hóa giáo dục
Nhà nước đưa ra các Nghị quyết phát triển xã hội hóa giáo dục

Ngoài ra xã hội hóa giáo dục còn được quy định tại Điều 11, Luật giáo dục nêu rằng: “Mọi tổ chức, gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo  sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục, thực hiện đa dạng hóa những loại hình nhà trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục”

Qua hơn 10 năm thực hiện các nghị quyết và các văn bản xã hội hóa giáo dục nước ta đã đạt được những thành tựu và tồn tại nhất định:

Những thành tựu đã đạt được

Thứ nhất, chúng ta đã đa dạng hóa qui mô đào tạo, hệ thống cơ sở vật chất các cấp bậc trong cả nước. Thường xuyên tiến hành đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp và điều kiện đào tạo phù hợp hơn với xu hướng hội nhập quốc tế.

Hầu như tất cả những người trong độ tuổi (trừ một số ở vùng sâu, vùng xa, miền núi giao thông khó khăn) đã học hết bậc tiểu học. 

Chỉ số phát triển hệ cao đẳng và đại học cũng tăng hơn 13% từ năm 1995 đến năm 2000.

Thứ hai, ngân sách giành cho giáo dục và đào tạo được từng bước tăng thêm, tạo tiền đề cải thiện cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, xã hội hóa giáo dục và đưa khoa học công nghệ vào giáo dục nhiều hơn. Ngân sách nhà nước bỏ ra cho giáo dục từ năm 1995: 11,17% tăng lên 16% vào năm 2002.

Cơ sở vật chất tại các trường học được cải thiện đáng kể
Cơ sở vật chất tại các trường học được cải thiện đáng kể

Thứ ba, thực hiện xã hội hóa giáo dục tại Việt Nam làm tăng nhân lực có trình độ cao. Tính đến năm 2002 cả nước ta có 15.000 thạc sĩ, hơn 1500 giáo sự, 13000 tiến sĩ,… Tỷ lệ giảng viên có bằng thạc sĩ tăng nhanh tạo điều kiện để nâng cao chất lượng giáo dục 

Nhà xuất bản giáo dục chuyên sản xuất những cuốn sách hay và ý nghĩa phục vụ cho giáo dục, chúng ta hãy tìm hiểu về những cuốn sách hay mà nhà xuất bản giáo dục sản xuất trong bài tiếp theo nhé!

Thứ tư, nội dung chương trình đào tạo được thay đôi từng bước phù hợp với chương trình đào tạo thế giới. Các công trình nghiên cứu khoa học đã được áp dụng vào phát triển kinh tế, xã hội đất nước. Áp dụng như khái niệm xã hội hóa giáo dục đã đặt ra “gắn giáo dục với xã hội”.

Các công trình nghiên cứu khoa học mang tính ứng dụng cao
Các công trình nghiên cứu khoa học mang tính ứng dụng cao

Những tồn tại và hạn chế

Bên cạnh các thành tựu đã đạt được thì việc thực hiện xã hội hóa giáo dục theo đề án đã vạch ra vẫn tồn tại những bất cập nhất định:

Thứ nhất, chất lượng giáo dục chưa cao, mang tính lạc hậu. Đào tạo chưa phù hợp với yêu cầu hội nhập, chưa đồng bộ chương trình giáo dục từ mẫu giáo đến đại học, có sự chênh lệch giữa các cấp, các vùng và giữa các trường. 

Xã hội hóa giáo dục ở bậc đại học chưa thực sự đạt được kết quả mong muốn. Hệ đào tạo đại học chỉ mang tính lý thuyết và khái quát hóa, không có tính chuyên môn cao tương xứng với giáo dục thế giới.

Thứ hai, tỷ lệ sinh viên Đại học (độ tuổi 18-22 tuổi) ở nước ta chiếm 6% (năm 2002) – chỉ đạt được mức mà các nước thu nhập thấp có. Nhà nước cho rằng tỷ lệ này sẽ đạt 25% vào năm 2020, như vậy nước ta cần tăng trung bình 10%/năm để đạt được con số kia.

Bài toán thất nghiệp vẫn luôn tồn tại
Bài toán thất nghiệp vẫn luôn tồn tại

Thứ ba, xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam đang có nguy cơ tạo ra những con người thụ động, không có tính sáng tạo và tư duy logic cao, chỉ chăm chăm chạy theo các ngành xin việc dễ.

Thứ tư, hầu như sinh viên Việt Nam sau khi ra trường đều không đủ trình độ hội nhập khi làm việc tại các công ty nước ngoài ở nước ta. Đây là một điều đi trái lại những gì xã hội hóa giáo dục đặt ra. 

Mặc dù đã xây dựng xã hội hóa giáo dục tích cực trong những năm qua nhưng nó chưa thực sự thực hiện hợp lý, tình trạng xã hội hóa một cách vô tội vạ làm cho những bất cập trong ngành giáo dục ngày càng tăng. Đảng và nhà nước nên có sự quan tâm đặc biệt cho chủ chương này để có thể thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

Nguồn: Mạnh Vũ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *